Hiểu Rõ Quyền Lực Nhà Nước Thuộc Về Nhân Dân Trong Hiến Pháp 2013

Hiến pháp năm 2013, được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013, là bản Hiến pháp thứ năm trong lịch sử lập hiến Việt Nam, đánh dấu bước tiến mới trong tư tưởng lập hiến, đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước. Một trong những nội dung quan trọng của Hiến pháp 2013 là khẳng định bản chất dân chủ của chế độ, gắn liền với yêu cầu bảo đảm tính pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của nhà nước. Khoản 2 Điều 2 Hiến pháp 2013 nêu rõ: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.” Vậy, quy định này cần được hiểu như thế nào?

Phân Tích Quy Định Về Quyền Lực Nhà Nước Thuộc Về Nhân Dân

1. Khẳng Định Chủ Quyền Nhân Dân

Quy định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” đi liền với “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ” là sự thể hiện trực tiếp nguyên lý về chủ quyền nhân dân, tư tưởng nền tảng trong các bản Hiến pháp của Việt Nam. Điều này cũng tương đồng với Khoản 1 Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.”

Tinh thần này đã được thể hiện xuyên suốt trong các bản Hiến pháp trước đó:

  • Hiến pháp 1946: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1).
  • Hiến pháp 1959: “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân.” (Điều 4)
  • Hiến pháp 1980: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.” (Điều 6)
  • Hiến pháp 1992: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.” (Điều 2)

Như vậy, có thể khẳng định, tư tưởng nhất quán trong lịch sử lập pháp của Việt Nam là nhà nước ta mang bản chất của nhân dân, do nhân dân làm chủ và mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân.

2. Nhân Dân Là Chủ Thể Tối Cao Của Quyền Lực Nhà Nước

Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” khẳng định Nhân dân là chủ thể thật sự, chủ thể đích thực và chủ thể tối cao của nhà nước, của tất cả quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ Nhân dân, do Nhân dân ủy quyền, dù cho bất kỳ cơ quan, cá nhân nào nắm giữ. Không có thứ quyền lực nhà nước nào có nguồn gốc tự thân, nằm ngoài sự trao quyền của Nhân dân.

Trong thực tiễn, dù chỉ Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là do Nhân dân trực tiếp bầu ra, nhưng điều đó không có nghĩa chỉ các cơ quan này mới được Nhân dân ủy thác quyền lực. Mọi cơ quan nhà nước khác, dù là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, tư pháp hay bất cứ cơ quan nhà nước nào khác, cũng đều thực hiện quyền lực nhà nước trên cơ sở sự trao quyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ Nhân dân (thông qua Hiến pháp và pháp luật).

Do đó, trong tổ chức và hoạt động, các cơ quan nhà nước đều phải bảo đảm tinh thần vì lợi ích của Nhân dân để phục vụ.

3. Nguồn Gốc Thế Tục Của Quyền Lực Nhà Nước

Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ” khẳng định nguồn gốc thế tục của quyền lực nhà nước ở Việt Nam. Quyền lực nhà nước ở Việt Nam không có nguồn gốc từ thần quyền, mà có nguồn gốc từ Nhân dân.

Điều này trái ngược hoàn toàn với chế độ phong kiến, khi nhà vua tự coi mình là “thiên tử” (con trời), được trời đưa xuống để cai trị nhân dân. Quan lại được coi là cha mẹ dân, được “thiên tử” ủy thác cho việc chăm lo, cai trị thần dân. Vua và quan lại không phải chịu trách nhiệm trước Nhân dân.

Cuộc cách mạng tháng Tám đã bác bỏ hoàn toàn tư tưởng phản động đó. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời vào ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định sự cần thiết của một bản Hiến pháp dân chủ.

Như vậy, Nhà nước không phải là chủ của Nhân dân, mà ngược lại chính Nhân dân mới là chủ của Nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm cao nhất là phục vụ Nhân dân. Nhân dân có tiếng nói cao nhất, cuối cùng về số phận của Nhà nước, của từng cơ quan nhà nước. Tất cả các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức nhà nước đều phải chịu trách nhiệm trước Nhân dân, phục vụ Nhân dân và hành xử vì lợi ích của Nhân dân. Cán bộ, công chức, viên chức nhà nước đều phải là công bộc của Nhân dân, theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh.

4. Nền Tảng Của Nhân Dân Và Tính Đại Đoàn Kết

Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” khẳng định mọi công dân Việt Nam đều là người làm chủ Nhà nước, không phân biệt giới tính, giai cấp, tôn giáo, tín ngưỡng, chính kiến, nguồn gốc xuất thân, quá khứ chính trị. Điều này thể hiện rõ tinh thần đại đoàn kết toàn dân trong các chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Tuy nhiên, việc khẳng định nền tảng của Nhân dân là “liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” hàm ý rằng, Nhà nước phải phục vụ lợi ích và bảo đảm lợi ích cho đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội, mà trước hết là những người lao động.

Trong bối cảnh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là lực lượng cơ bản nhất, đông đảo nhất trong xã hội, yêu cầu này vẫn được xem là phù hợp và cần thiết. Nhà nước phải có trách nhiệm tạo điều kiện để những người có thu nhập không cao vẫn có cơ hội phát triển bình đẳng về chính trị.

5. Chi Phối Các Quy Định Khác Trong Hiến Pháp Và Pháp Luật

Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” là nguyên tắc căn bản của Hiến pháp năm 2013, thể hiện bản chất cốt lõi của chế độ ta, chi phối việc thiết kế nhiều quy định khác trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Cụ thể:

  • Điều 3 Hiến pháp 2013 quy định rõ trách nhiệm, sứ mệnh phục vụ Nhân dân của Nhà nước.

  • Khoản 2 Điều 8 Hiến pháp 2013 quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.”

  • Hiến pháp 2013 đề cao cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Quốc hội, với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước.

  • Điều 6 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.”

    • Như vậy, Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua cả hai hình thức là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
    • Khi thực thi công vụ, các cơ quan nhà nước đều không được làm trái lợi ích của Nhân dân mà phải thực hiện một cách tận tụy nhất, trung thành nhất với lợi ích của Nhân dân, theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh.”
  • Điều 7 Hiến pháp 2013 quy định về việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đại biểu dân cử phải trung thành với lợi ích của Nhân dân và có thể bị bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân.

  • Việc khẳng định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp thể hiện một bước tiến mới trong nhận thức của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Các hình thức dân chủ trực tiếp ngày càng được coi trọng, thể hiện qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, Luật Trưng cầu ý dân và Luật Tiếp cận thông tin.

  • Điều 9 Hiến pháp 2013 quy định vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, cũng như các tổ chức xã hội khác trong việc thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân.

  • Hiến pháp 2013 quy định hàng loạt quyền con người, quyền công dân mà mỗi cá nhân người dân Việt Nam đều được hưởng, bao gồm các quyền năng trong lĩnh vực chính trị như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 25), quyền bầu cử và ứng cử (Điều 27), quyền tham gia quản lý nhà nước (Điều 28), quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29) và quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 30).

Kết Luận

Bảo đảm “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” đi liền với việc khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ”, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là nhà nước “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” là biện pháp quan trọng hàng đầu bảo đảm tính chính danh, chính đáng của hệ thống chính quyền ở nước ta, và là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu bảo đảm sự bền vững của một chế độ. Quy định này trong Hiến pháp năm 2013 một lần nữa tô đậm thêm truyền thống chính trị vì dân ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo tiền đề tiếp tục xây dựng và củng cố mối quan hệ bền chặt giữa Nhân dân và chế độ. Người dân cần hiểu rõ nội dung này để thực hiện tốt hơn nữa quyền và nghĩa vụ của mình, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.